Quản lý nhà nước đối với di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long

Đề tài: Quản lý nhà nước đối với di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long
 
Tên tác giả: Luanhay.vn
 
Từ khóa: Thực trạng quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của DSTNTG VHL, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước đối với DSTNTG VHL, các yếu tố tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước  với DSTNTG VHL.
 
1. Trình bày vấn đề

Tỉnh Quảng Ninh là một trong những trọng điểm du lịch phía Bắc mà trọng tâm là thành phố Hạ Long. Nơi đây là điểm đến hấp dẫn của du khách trong nước và quốc tế. VHL nổi tiếng là một danh lam thắng cảnh, một Di tích Quốc gia đặc biệt đã hai lần được tổ chức UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên Thế giới và được bầu chọn là 1 trong 7 Kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới, “một hòn ngọc quý” mà thiên nhiên ban tặng cho toàn nhân loại. Đây không chỉ là niềm tự hào của người dân Quảng Ninh mà là niềm hãnh diện của toàn dân Việt Nam với bạn bè năm châu. Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, VHL được coi là mũi nhọn then chốt của ngành du lịch nước ta, nơi quảng bá hình ảnh Việt Nam đến với các nước trên thế giới. VHL không chỉ nổi tiếng bởi cảnh đẹp non nước hữu tình, mà còn bởi giá trị địa chất, địa mạo và cấu trúc của vịnh, vì vậy du khách đã một lần đến đây không khỏi có ý nghĩ sẽ phải trở lại với Hạ Long, bởi đi một lần chưa đủ để thưởng thức hết vẻ đẹp huyền diệu của kỳ quan thiên nhiên này.  Chính vì thế mà du khách quốc tế  và trong nước đến với Hạ long ngày một nhiều, năm 2011 con số khách du lịch là 6.2 triệu lượt  khách, lên tới con số 7 triệu lượt khách năm 2012 và đã mang lại doanh thu lớn cho ngành Du lịch Quảng Ninh, tạo ra hàng chục ngàn việc làm cho người lao động.Với tâm điểm là VHL, Quảng Ninh đã trở thành địa chỉ thu hút nhiều dự án đầu tư vào lĩnh vực du lịch, đã huy động các nguồn lực của các tổ chức, cá nhân đầu tư cơ sở hạ tầng, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch. Chính điều đó đã góp phần thay đổi diện mạo của thành phố Hạ Long và vùng phụ cận tạo ra sự phát triển mới cho toàn vùng. Du lịch Hạ Long đã trở thành động lực, là tâm điểm của du lịch Việt Nam và có đóng góp quan trọng đối với toàn ngành du lịch.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển bề ngoài đó thì ẩn sâu bên trong là hiểm họa mà VHL đang phải đối mặt. Những năm gần đây chính sự phát triển kinh tế là một trong những nguyên nhân cơ bản đe dọa làm phá vỡ cảnh quan môi trường và đa dạng sinh học của Vịnh. Chính vì vậy, vấn đề quản lý nhà nước về DSTNTG VHL đang là một vấn đề mà Đảng, Nhà nước nói chung và tỉnh Quảng ninh, Ban QLVHL và các Cơ quan, Ban, Ngành, địa phương nói riêng rất quan tâm, trở thành vấn đề cấp thiết, đòi hỏi cần phải nghiên cứu và đưa ra các chính sách tạo hành lang pháp lý phù hợp, nhằm đánh giá đúng thực trạng về việc quản lý  nhà nước đối với di sản, để đưa ra những giải pháp quản lý hiệu quả hơn, tạo nền tảng cho VHL với một tương lai phát triển bền vững, tính toàn vẹn và giá trị của Hạ Long được quản lý, bảo tồn , phát huy hiệu quả, đầu tư và phát triển được nâng cao.

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề quản lý nhà nước về DSTNTG VHL và các đối tượng liên quan.
* Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2010- 2012
 Về nội dung: Đề tài được giới hạn trong nghiên cứu tìm hiểu thực trạng của việc quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị DSTNTG VHL. Do vấn đề nghiên cứu rất rộng, liên quan tới nhiều Bộ, Ban, ngành từ trung ương đến địa phương và các tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh tế xã hội trên vịnh và xung quanh vịnh, nên trong luận văn này chỉ tập trung tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề liên quan tới công tác quản lý nhà nước đối với DSTNTG VHL.

3. Phương pháp nghiên cứu

Các loại Số liệu đã công bố tác giả sử dụng bao gồm:
(1) Các văn bản pháp quy của nhà nước, Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch, UBND tỉnh Quảng Ninh, Ban quản lý VHL và các văn có liên quan;
(2) Các báo cáo, tổng kết công tác quản lý nhà nước đối với DSTNTG VHL
(3) Các số liệu của tổng cục thống kê
(4) Các văn bản dự thảo, kế hoạch của Ban QLVHL, UBND tỉnh Quảng Ninh;
(5) Các nghiên cứu, phân tích, đánh giá của các tác giả khác về lĩnh vực này;
(6) Cuối cùng là các nguồn tài liệu báo chí, ấn phẩm, sách, website có liên quan đến việc nghiên cứu của đề tài
Thiết kế Thang đo
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng thang đó đo Likert 7 bậc trong việc đánh giá các nội dung QLDSTNTG VHL và các yếu tố ảnh hưởng tới QLDSTNTG VHL
 - Phương pháp phân tích
Phương pháp so sánh dữ liệu
Phương pháp tổng hợp
Phương pháp thống kê

4. Kết quả nghiên cứu

* Đánh giá chung quản lý nhà nước đối với DSTNTG VHL
- Những mặt đạt được
VHL đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ của các cơ quan Trung ương, các tổ chức quốc tế, sự phối hợp của các ngành, địa phương trong tỉnh và sự tham gia của cộng đồng dân cư nên việc chấp hành pháp luật đối về cơ bản đã đi vào nề nếp. VHL đã được khoanh vùng bảo vệ ngay sau khi được công nhận là Di sản, các giá trị về cảnh quan thiên nhiên, địa chất, địa mạo trong khu vực Di sản được bảo vệ và ngày càng bảo tồn và phát huy có hiệu quả; đã kết hợp giữa việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản với phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường như đẩy mạnh hoạt động du lịch, đa dạng hóa loại hình dịch vụ, điều tra xây dựng dữ liệu về tài nguyên môi trường biển, hải đảo và đề xuất triển khai dự án nghiên cứu xây dựng và cập nhật kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu trên vùng Di sản VHL.
Công tác tu bổ, phục hồi, đầu tư và tôn tạo xếp hạng khoanh vùng bảo vệ các Di tích thuộc VHL, bước đầu được phục dựng và tạo được sự hấp dẫn về văn hoá truyền thống của ngư dân làng chài trên Vịnh đối với du khách tham quan VHL. Cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật bảo đảm an toàn, thuận tiện cho khách và tầu du lịch tại các điểm tham quan được đầu tư.
 Ban QLVHL được thành lập từ năm 1995  theo quyết định số 2796QĐ/UB ngày 09/12/1995 của UBND tỉnh Quảng ninh để thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với VHL, cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao và được đánh giá là mô hình tương đối hợp lý trong công tác quản lý Di sản.
Công tác quản lý đối với hoạt động du lịch và dịch vụ trên VHL có chuyển biến. Chất lượng phục vụ trên tàu ngày càng được nâng lên, đáp ứng nhu cầu của du khách, tình trạng gây ô nhiễm môi trường do chất thải của các tàu du lịch đã được khắc phục, hạn chế.
Công tác Bảo vệ môi trường khu vực trong và ven vùng Vịnh được chú trọng, việc thu gom và xử lý rác thải vùng ven bờ được thực hiện thường xuyên hạn chế được rác trôi nổi ven bờ.
 Tình hình an ninh trật tự trên vùng VHL cơ bản đảm bảo, không có tội phạm hoạt động gây bức xúc cho nhân dân và du khách. Công tác quản lý khách lưu trú qua đêm trên Vịnh được thực hiện đảm bảo đầy đủ, khai báo tại Công an các phường, có bến đón trả khách và làm thủ tục qua mạng Internet nên đã giảm thiểu thời gian khai báo và thuận tiện làm thủ tục lưu trú cho du khách.
          Công tác quản lý dân cư, nhà bè và các hoạt động kinh tế - xã hội trên Vịnh có nhiều chuyển biến tích cực đã xây dựng các hình thức quản lý tương đối phù hợp với tình hình thực tế; các hoạt động kinh tế xã hội trên vịnh được quản lý
 
Sự phối hợp giữa các ngành chức năng với các địa phương trong công tác quản lý Di sản đã từng bước đạt hiệu quả. Đặc biệt ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và cộng đồng nhân dân đối với việc bảo vệ, giữ gìn Di sản VHL được nâng lên rõ rệt. Công tác thanh, kiểm tra việc thực hiện các quy định về an toàn, an ninh, trật tự công cộng, vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ và các điều kiện phục vụ du lịch và lưu trú trên VHL đã được tổ chức và chấn chỉnh. Đã tiến hành kiểm tra các bãi tắm du lịch, các hoạt động buôn, bán hải sản, thực hiện niêm yết giá tàu du lịch và bảo vệ môi trường, nên đã ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, các vi phạm xảy ra.
Công tác thanh tra, kiểm tra được thực hiện thường xuyên, đã phát hiện nhiều vi phạm gây ảnh hưởng đến cảnh quan, hệ sinh thái biển, chất lượng nước  như: đổ bùn thải không đúng nơi quy định; xả rác, xả nước thải vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn cho phép; thực hiện không đúng, không đầy đủ các nội dung cam kết bảo vệ môi trường; hiện tượng phá đá, chặt cây, lấy nhũ đá, khai thác, mua bán san hô; các nhà bè hoạt động, neo đậu không đúng nơi quy định ...
Công tác tìm kiếm cứu nạn, phòng chống cháy nổ đang trong giai đoạn củng cố kiện toàn và hoàn chỉnh.
Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đã phát huy hiệu quả nhất định, nhận thức của các cấp, các ngành, mọi tầng lớp nhân dân, đảm bảo tính nguyên vẹn của VHL được nâng lên, đặc biệt là trong công tác trật tự an toàn giao thông đường thủy, quản lý đăng ký nhân hộ khẩu, quản lý lưu trú, phòng chống cháy, nổ... Thông qua việc tuyên truyền, giới thiệu, nhận thức trách nhiệm của cộng đồng tham gia bảo vệ, phát huy giá trị di sản được nâng cao.
- Những mặt còn hạn chế
Hạn chế thứ nhất, từ năm 1987 Việt Nam tham gia Công ước Quốc tế về Bảo vệ Di sản thiên nhiên và văn hoá được thông qua tại kỳ họp thứ 17 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 16/11/1972 nhưng các văn bản luật pháp liên quan đến di sản nói chung (Di sản thiên thiên, Di sản văn hoá, Di sản hỗn hợp) chưa hoàn thiện, nhất là đối với di sản thiên nhiên.
Hạn chế thứ hai, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 142/2002/QĐ-TTg về việc phê duyệt qui hoạch bảo tồn và phát huy giá trị DSTNTG VHL đến năm 2020 nhưng việc xây dựng Qui hoạch chi tiết bảo tồn và phát huy giá trị VHL đến năm 2020 thực hiện còn chậm. Do nhu cầu phát triển, nên khu vực nằm ở trung tâm thành phố Hạ Long (khu Di sản Thế giới) gồm toàn thể khu vực bảo tồn cảnh quan, sinh thái, địa chất, địa mạo, văn hoá, lịch sử, là khu vực bảo vệ tuyệt đối nhưng quy hoạch chung xây dựng và quy hoạch phân khu chức năng tại các khu vực ven bờ thuộc phạm vi Di sản chưa ổn định, trong đó có một số dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị vẫn điều chỉnh nhiều lần, tiến độ xây dựng công trình lấp đầy diện tích của dự án còn chậm như dự án Khu đô thị mới Hùng Thắng, dự án Khu du lịch Tuần Châu… dẫn đến bất cập trong công tác quản lý.
Hạn chế thứ ba, công tác tham mưu đề xuất cơ chế, chính sách thuộc một số lĩnh vực đối với Di sản còn chưa kịp thời và đồng bộ, một số chủ trương của tỉnh tuy đã triển khai nhưng hiệu quả còn thấp như việc sắp xếp, quản lý di chuyển nhà bè, kinh doanh dịch vụ trong phạm vi VHL, thực hiện Chỉ thị số 07/2006/CT-UBND về tăng cường công tác bảo vệ môi trường sinh thái VHL chưa được đầy đủ; Chưa có cơ chế khuyến khích trong việc thu hút vốn đầu tư xã hội hóa để thu gom, xử lý rác thải, nước thải và chất thải nguy hại, bảo vệ môi trường.
Hạn chế thứ tư, việc thực hiện Quy chế phối hợp liên ngành bảo vệ di sản  còn chưa thống nhất với các ngành liên quan trong việc chủ trì phối hợp thực hiện chức năng quản lý nhà nước đã được phân công trách nhiệm, do đó có việc còn chồng chéo, hiệu quả thấp nhưng chưa được bổ sung, điều chỉnh kịp thời. Các nội dung thực hiện trong quy chế phối hợp chưa được đánh giá, sơ kết rút kinh nghiệm định kỳ hàng năm, nên hiệu quả hạn chế, chưa theo kịp tốc độ phát triển của các hoạt động kinh tế này.
Hạn chế thứ năm là cơ sở hạ tầng phục vụ chưa đồng bộ, năng lực của các cảng, bến tàu chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ khách du lịch với số lượng khách tham quan ngày càng tăng. Cảng tàu khách du lịch Bãi Cháy chưa đảm bảo các điều kiện để đón khách Quốc tế như chưa có nhà chờ, phòng điều hành, phòng bán vé còn nhỏ hẹp...; Tình trạng xuống cấp tại các điểm cập tàu cũng đáng báo động và không đảm bảo an toàn cho du khách nhưng chậm được khắc phục và xử lý. Bên cạnh đó, hoạt động giao thông đường thủy nội địa trên vịnh do nhiều cơ quan quản lý, nhưng phối hợp chưa đồng bộ; việc quản lý theo luồng, tuyến trên Vịnh chưa được đảm bảo; một số điểm bến chưa được công bố; công tác cảng vụ mới kiểm soát được đầu đi tại cảng, bến ở đất liền, chưa quản lý tại các điểm thăm quan, điểm nghỉ đêm, nên việc tàu, thuyền đi lại tự do trên Vịnh gây ảnh hưởng đến giao thông đường thủy.
Hạn chế thứ sáu là trách nhiệm các ngành, địa phương trong việc kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật ở một số lĩnh vực hoạt động trên Vịnh chưa chủ động thống nhất, đồng bộ nên dẫn đến tình trạng chồng chéo hoặc ít được quan tâm giám sát, kiểm tra thường xuyên và xử lý kịp thời vi phạm như: quản lý chất lượng hoạt động tàu du lịch; bảo vệ môi trường; bảo vệ nguồn lợi thủy sản; kiểm soát chất lượng, giá cả dịch vụ thương mại... Đặc biệt, công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức của cộng đồng về bảo vệ cảnh quan môi trường, bảo vệ các giá trị, tiềm năng về thuỷ sản, bảo vệ đa dạng sinh học... tuy đã được triển khai, nhưng chưa thực sự sâu rộng và hiệu quả chưa cao. Nhận thức của một số cơ quan, đơn vị và nhân dân về giá trị, về công tác bảo vệ, phát huy giá trị Di sản chưa được đầy đủ.
* Nguyên nhân
Thứ nhất là Hạ Long cũng giống như các DSTNTG khác của Việt Nam thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Di sản văn hóa nhưng phạm vi, nội dung Luật Di sản văn hóa chủ yếu điều chỉnh hoạt động quản lý  Di sản văn hóa, chưa có nội dung quy định cụ thể cho quản lý Di sản thiên nhiên, rất khó khăn khi áp dụng vào thực tế quản lý.
Thứ hai là việc chấp hành các Nghị quyết, Chỉ thị, quy chế, quy định cũng như văn bản chỉ đạo của Tỉnh về quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị VHL của các tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh tế-xã hội trên Vịnh còn chưa nghiêm túc, triệt để. Trách nhiệm của một số ngành, địa phương trong việc quản lý, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm trên vịnh chưa cao, chưa chủ động, thống nhất, đồng bộ nên dẫn đến tình trạng chồng chéo, buông lỏng quản lý trên một số lĩnh vực hoạt động: Chưa có chế tài pháp lý đủ mạnh để điều chỉnh hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong việc thực hiện các quy chế, quy định bảo vệ Di sản.
Thứ ba là  công tác bảo vệ môi trường VHL tuy được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều bất cập như: Các tổ chức, cá nhân và dân cư sinh sống, hoạt động trên vịnh vẫn còn thói quen xả rác trực tiếp xuống Vịnh.
Thứ tư là công tác kiểm tra xử lý vi phạm chưa có một chế tài xử lý minh bạch, rõ ràng, triệt để. Mặt khác, việc giải quyết, xử lý các hồ sơ vi phạm của các ngành, đơn vị chức năng còn chậm.Sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành trong công tác tham mưu ban hành các văn bản nhằm nâng cao hiệu quả việc bảo tồn, phát huy giá trị Di sản chưa kịp thời; Các chế tài, biện pháp ngăn ngừa, xử phạt hành vi xâm hại chưa đủ mạnh và mang tính giáo dục, răn đe. Lực lượng thanh tra, kiểm tra các hoạt động trên Vịnh của các Sở, Ban, Ngành còn thiếu, hoạt động hiệu quả chưa cao, phương tiện phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra còn hạn chế, nhất là xử lý tình hình an ninh, trật tự và các vi phạm. 
Thứ năm là hoạt động kinh doanh vận chuyển khách du lịch và lưu trú chưa thực sự nề nếp, còn hiện tượng vi phạm như không có Giấy phép rời cảng, bến. Nguyên nhân của thực trạng này là do: 
Sự phối hợp quản lý của các ngành liên quan chưa thường xuyên.Tổ chức bộ máy, cán bộ của Ban QLVHL tuy từng bước kiện toàn song chưa đáp ứng được yêu cầu. Số lượng đội ngũ cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ về quản lý, bảo tồn  Di sản còn ít.
Môi trường biển đảo đi lại khó khăn, chịu ảnh hưởng trực tiếp của thiên nhiên như: Mưa, bão, giông, thủy triều…không thuận lợi cho công tác quản lý, Đồng thời, khách tham quan đông, phân bố không đều chủ yếu tập trung vào mùa hạ cũng là một nguyên nhân dẫn đến những vi phạm về kinh doanh vận chuyển du lịch và lưu trú.
Các hoạt động kinh tế xã hội phát triển nhanh có nguy cơ xâm hại đến DSTNTG VHL.
 
Xem thêm lý thuyết về: Hướng dẫn hồi quy FEM/REM với StataMô hình hồi quy tuyến tính, FEM và REM,  phân tích Tương quan và Đa cộng tuyến; phương sai sai số thay đổi ; tự tương quan, Hausman test; kiểm định phi tham số, VAR, MDS; EFA, VECM, CFA, SEM, PMG. Xem thêm một số bài nghiên cứu ứng dụng lý thuyết   Tra cứu giá trị thống kê qua bảng tính sẵn giá trị hồi quy,  kiểm định, eview, stataspss
 

Để có thêm thông tin chi tiết liên hệ: Luanhay.vn  - 081 800 1762/  097 9696 222 – hoặc email: luanhay@luanhay.com – luanvanhay@gmail.com
 

Đăng ký tuyển sinh

Hide Buttons