Phân tích thực nghiệm về các doanh nghiệp không sử dụng đòn bẩy ở Việt Nam

Đề tài: Phân tích thực nghiệm về các doanh nghiệp không sử dụng đòn bẩy ở Việt Nam
 
Tên tác giả: Luanhay.vn

Từ khóa:  Lý thuyết đánh đổi và trật tự phân hạng, doanh nghiệp không sử dụng đòn bẩy, doanh nghiệp không sử dụng đòn bẩy ở Việt Nam, các yếu tố tác động đến chính sách hạn chế nợ của doanh nghiệp
 
1. Trình bày vấn đề
 
Chúng ta đều biết trong một doanh nghiệp có 3 vấn đề lớn là đầu tư, tài trợ và cổ tức. Nói riêng về tài trợ, có 2 nguồn tài trợ chính là vốn tự có và vay nợ. Nhiều doanh nghiệp quyết định sử dụng đòn bẩy trong cấu trúc vốn của mình để nhận được những lợi thế từ vay nợ như tấm chắn thuế và gia tăng nguồn vốn kinh doanh. Tuy nhiên vẫn tồn tại những doanh nghiêp rất hạn chế việc vay mượn hoặc thậm chí là không. Bài nghiên cứu này sẽ tìm hiểu vì sao doanh nghiệp lại quyết định không dùng đòn bẩy như một phương thức tài trợ hữu hiệu.


2. Phương pháp nghiên cứu.

- So sánh các doanh nghiệp không sử dụng đòn bẩy và có đòn bẩy.
- Dùng hồi quy logistic để tìm hiểu xu hướng của doanh nghiệp.
- Phân biệt giữa hạn chế tài trợ với các vấn đề đầu tư dưới mức, đồng thời sử dụng ước lượng mô hình Tobin’q.

 3. 
Một số nguyên nhân vì sao các doanh nghiệp ít sử dụng nợ

Các doanh nghiệp không vay nợ thì có lợi thế về cơ hội đầu tư hơn các doanh nghiệp vay nợ, vì khi đó các doanh nghiệp không vay nợ ít bị hạn chế từ các điều kiện vĩ mô ảnh hưởng tiêu cực lên vay mượn của doanh nghiệp như GDP thấp, các vấn đề về lãi suất,…
Ngoài ra, sử dụng vốn chủ sở hữu có thể giảm sự biến động  và giảm bớt xung đột đầu tư dưới chuẩn. Khi xuất hiện bất hoàn hảo, các doanh nghiệp có thể giảm vay nợ và tăng dự trữ tiền mặt để có thể đáp ứng khả năng chi trả nợ và tăng khả năng đầu tư.
Bên cạnh đó, không vay nợ có thể do lựa chọn bất lợi( bất cân xứng thông tin), chi phí giao dịch, biến dạng đầu tư. Các doanh nghiệp này không vay nợ cũng có thể là do tín dụng bị hạn chế.Khi doanh nghiệp không sử dụng đòn bẩy thì cơ hội đầu tư sẽ tăng do không bị các giới hạn.
Giả thiết hạn chế tài trợ:
Chúng tôi thấy rằng việc quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào các đặc điểm của từng doanh nghiệp mà còn phụ thuộc nguồn vốn huy động từ bên ngoài.  Giả thiết hạn chế tài trợ cho thấy những khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn từ bên ngoài do những người cho vay không thấy hết tiềm năng của doanh nghiệp (chủ yếu do bất cân xứng thông tin) nên doanh nghiệp khó có khả năng tiếp cận nguồn vốn dẫn đến vay nợ ít.
Giả thiết đầu tư dưới chuẩn:
Đẩu tư dưới chuẩn được hiểu là mâu thuẫn giữa các cổ đông và các nhà quản lý trong vấn đề nên đầu tư vào các dự án nhiều rủi ro hay ít rủi ro để đạt được mức lợi nhuận trong hiện tại hoặc tương lai. Viêc sử dụng ít nợ có thể giảm đầu tư dưới chuẩn và giảm chi phí đại diện.
Giả thiết linh hoạt tài chính:
Doanh nghiệp tăng trưởng cao thường chọn ít nợ và giữ tiền nhiều để duy trì tính linh hoạt tài chính. Các doanh nghiệp sẽ sử dụng đòn bẩy một cách thận trọng để tiết kiệm mức vay cho những cơ hội đầu tư trong tương lai. Nắm giữ tiền mặt sẽ giúp giảm biến dạng đầu tư.
Lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân hạng:
Doanh nghiệp vay nợ ít hơn khi chi phí kiệt quệ tài chính lớn, lá chắn thuế thấp.
 
3. Kết quả nghiên cứu
 Bảng 4.4 Coefficientsa
Coefficientsa
Model Unstandardized Coefficients Standardized Coefficients t Sig. 95% Confidence Interval for B
B Std. Error Beta Lower Bound Upper Bound
1 (Constant) 0.270419685 0.01839   14.704 3E-42 0.2343056 0.3065
  Age -0.002028917 0.000852 -0.096926248 -2.382 0.0175 -0.003702 -0.0004
  Cashflow 0.21318335 0.277338 0.42728306 0.7687 0.4424 -0.33144 0.7578
  Cashholdings -0.08186684 0.049141 -0.073252447 -1.666 0.0962 -0.178367 0.0146
  Debttaxshields 1.763799 0.009471611 0.2349 0.8143 -3.049274 3.878
  Dividendpayoutratio -0.666075719 0.368889 -0.07657589 -1.806 0.0715 -1.390481 0.0583
  Liquidity -0.001925833 0.001803 -0.070029732 -1.068 0.2859 -0.005467 0.0016
  Nondebttaxshields -0.222736929 0.277712 -0.443432487 -0.802 0.4228 -0.768094 0.3226
  Profitability -0.287202735 0.203138 -0.08930742 -1.414 0.1579 -0.686114 0.1117
  Tangibility 0.028047374 0.035936 0.032301324 0.7805 0.4354 -0.042521 0.0986
  Taxratio -0.111869024 0.056986 -0.078092349 -1.963 0.0501 -0.223776 4E-05
  Zscore 6.37779E-05 0.00055 0.007704115 0.116 0.9077 -0.001016 0.0011
a. Dependent Variable: Leverage
 
Qua kết quả hồi quy ta có phương trình như sau:
Ln(P) = 0.2704 - 0.097Age + 0.427Cashflow - 0.073Cashholdings + 0.009 Debttaxschield – 0.076 Dividendpayoutratio – 0.07 Liquidity – 0.443 Nondebttaxshield – 0.089 Profitability + 0.032 Tangibility – 0.078 Taxratio +0.008 Zscore.
Trong đó hệ số tương quan R square  là 0.49, tức 49%, và chỉ số Adjusted R square là 62%, mô hình đã giải thích được 62% sự tác động của các biến số tài chính đến quyết định sử dụng đòn bẩy tài chính tại doanh nghiệp.
Như vậy chúng ta có thể nhận thấy rằng mô hình trên là có thể áp dụng được cho các doanh nghiệp không sử dụng đòn bẩy theo nguốn số liệu từ Worldscore trong khoảng thời gian từ năm 1993 đến 2012.
Thực tế kiểm nghiện cho thấy mô hình trên là phù hợp cho việc nghiên cứu giải thích vì sao các doanh nghiệp không lựa chọn đòn bẩy trong quyết định tài trợ bằng việc xây dụng mô hình hôi quy tuyến tinh biến phụ thuộc chỉ số đòn bẩy vào các biến giải thích.
Kết quả nghiên cứu của tác giả đã chứng minh được sự phụ thuộc của biến đòn bẩy vào các biến chỉ số tài chính trong nghiên cứu. Trong đó:
  1. Kết quả cho thấy rằng các công ty không có đòn bẩy thì nhỏ và non trẻ hơn một cách đáng kể so với các công ty tương ứng khác cùng ngành. Cụ thể, các doanh nghiệp không có đòn bẩy giảm theo thứ tự đối với các công ty có sử dụng đòn bẩy và các công ty tương ứng. Những phát hiện này cung cấp bằng chứng mạnh mẽ cho giả thuyết hạn chế tài chính vì các doanh nghiệp nhỏ và trẻ có nhiều khả năng bị hạn chế tín dụng.
  2. Các công ty không có đòn bẩy dường như có mức dư nợ thấp, ngược lại, các công ty có đòn bẩy và các công ty tương ứng duy trì một mức đòn bẩy đáng kể gần với mục tiêu của họ. Điều đó cho thấy các công ty không đòn bẩy chủ yếu dựa vào vốn cổ phần bên ngoài. Kênh thu hút vốn đầu tư chủ yếu của các công ty này là thị trường chứng khoán.
  3. Các chỉ tiêu Debtaxshield và Nondebttaxshield giảm trong phương trình trên cho thấy các doanh nghiệp không sử dụng đòn bẩy tải chính thường có mức chi tiêu vốn ít hơn so với các doanh nghiệp sử dụng nợ, điều này phù hợp với dự đoán rằng các doanh nghiệp không sử dụng nợ có thể phải đối mặt với vấn đề đầu tư dưới mức.
  4. Hệ số nắm giữ tiền mặt Cashholdings mang dấu “-”, điều này cùng với những kết quả trên về cơ hội tăng trưởng cho thấy rằng những doanh nghiệp tăng trưởng mà có nguồn dự trữ tiền mặt lớn thường chấp nhận chính sách không vay nợ.
  5. Phương trình trên cũng chỉ ra rằng biến thuế phi nợ Non-debt tax shield mang dấu “-“ cho thấy những doanh nghiệp có lợi từ những nguồn thuế phi nợ thì có ít động cơ để sử dụng nợ hơn. Điều này dẫn đến những doanh nghiệp không sử dụng đòn bẩy tài chính có tài sản hữu hình ít hơn và do đó sự khấu hao tài sản sẽ ít hơn.
  6. Hệ số dòng tiền (Cashflow) mang dấu “+” cho thấy các doanh nghiệp thường không sử dụng đòn bẩy khi họ có một nguồn quỹ nội bộ dồi dào.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy hiện tượng các công ty không sử dụng đòn bẩy tài chính gia tăng khá mạnh trong thời gian gần đây, đặc biệt là khi sự gia tăng số lượng các doanh nghiệp nhỏ và có mức tăng trưởng cao bắt đầu phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán (go public) nhưng bị hạn chế tín dụng, đồng thời do tác động của khủng hoảng kinh tế nên các ngân hang đã tiến hành siết chặt các điều khoản vay nợ, các công ty đối tác luôn duy trì công tác thu hồi nợ ở mức tối đa. Khi có 2 nhóm doanh nghiệp không sử dụng đòn bẩy và có sử dụng đòn bẩy thì có khác nhau rõ ràng về hạn chế tà chính, trong khi các doanh nghiệp ở cả hai nhóm phải đối mặt với một số hình thức ràng buộc, thì những doanh nghiệp trong nhóm không sử dụng đòn bẩy tài chính phải chịu hạn chế tín dụng cao hơn với một độ tuổi tương đối trẻ, quy mô nhỏ hơn, ít tài sản hữu hình hơn và lợi nhuận thấp hơn.
Các kết quả quả hồi quy của chúng tôi cho thấy rằng các doanh nghiệp nhỏ có nhiều khả năng để trở thành debt-free (không mắc nợ), đặc biệt là khi họ không chi trả cổ tức, điều này phù hợp với giả thuyết hạn chế tài chính. Các doanh nghiệp nắm giữ lượng tiền mặt lớn và có nhiều cơ hội phát triển sẽ có khả năng có đòn bẩy bằng không, trong khi các doanh nghiệp không có đòn bẩy tài chính với lượng tiền mặt ít và tăng trưởng thấp nhưng chi phí vốn cao sẽ có xu hướng sử dụng nợ và trở lại với chính nợ ít bảo thủ. Những phát hiện này cung cấp bằng chứng cho sự linh hoạt tài chính và giả thuyết đầu tư dưới mức. Hơn nữa, kết quả có được đã cho thấy rằng các điều kiện kinh tế vĩ mô bất lợi làm tăng xu hướng không vay nợ của các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với nhóm có ít hạn chế. Có một số bằng chứng về sự tái cân bằng đánh đổi động bởi vì các doanh nghiệp không sử dụng đòn bẩy có nhiều khả năng bắt đầu nợ khi độ lệch của đòn bẩy mục tiêu tăng. Tóm lại, kết quả của chúng tôi cho thấy rằng hiện tượng không đòn bẩy có thể được giải thích bởi những xem xét về hạn chế tài chính, khuyến khích đầu tư dưới mức, tài chính linh hoạt và các điều kiện kinh tế vĩ mô.
 
Xem thêm lý thuyết về: Hướng dẫn hồi quy FEM/REM với StataMô hình hồi quy tuyến tính, FEM và REM,  phân tích Tương quan và Đa cộng tuyến; phương sai sai số thay đổi ; tự tương quan, Hausman test; kiểm định phi tham số, VAR, MDS; EFA, VECM, CFA, SEM, PMG. Xem thêm một số bài nghiên cứu ứng dụng lý thuyết   Tra cứu giá trị thống kê qua bảng tính sẵn giá trị hồi quy,  kiểm định, eview, stataspss
 

Để có thêm thông tin chi tiết liên hệ: Luanhay.vn  - 081 800 1762/  097 9696 222 – hoặc email: luanhay@luanhay.com – luanvanhay@gmail.com
 

Đăng ký tuyển sinh

Hide Buttons