Phân tích khả năng mở rộng mô hình nông nghiệp công nghệ cao tại thành phố Đà Lạt

Đề tài: Phân tích khả năng mở rộng mô hình nông nghiệp công nghệ cao tại thành phố Đà Lạt
 
Tên tác giả: Luanhay.vn
 
Từ khóa: Hiện trạng ứng dụng NNCNC trong sản xuất tại Đà Lạt, mô hình NNCNC, giải pháp khuyến khích phát triển hoàn thiện sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC, các yếu tố nào ảnh hưởng tới khả năng mở rộng mô hình NNCNC , thuận lợi, khó khăn trong sản xuất và kinh doanh sản phẩm nông nghiệp CNC
 
1. Trình bày vấn đề
Nhằm phát huy lợi thế so sánh của tỉnh Lâm Đồng trong phát triển nông nghiệp. Lâm Đồng đã xác định Chương trình phát triển NNCNC là một trong 06 chương trình trọng tâm đã tập trung thực hiện trong thời gian qua. Theo Tỉnh ủy Lâm Đồng (2011), từng bước đánh giá và hoàn thiện việc quy hoạch các vùng NNCNC hiệu quả, phù hợp và đúng theo mục tiêu đề ra của Thủ tướng Chính phủ. Từ việc định hướng phát triển NNCNC trên địa bàn tỉnh phải nói đến địa bàn thành phố Đà Lạt là một trong những địa bàn của tỉnh Lâm Đồng luôn đi tiên phong trong việc tiếp cận và ứng dụng kỹ thuật CNC trong sản xuất nông nghiệp. Vì vậy vấn đề đặt ra là việc phát triển ứng dụng NNCNC theo hướng hàng hóa với mục đích là sản xuất sản phẩm nông nghiệp, chế biến, đến tiêu thụ sản phẩm phù hợp với định hướng và giải pháp hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng môi trường, hướng tới xây dựng vùng NNCNC tập trung và bền vững trong tương lai.
Đối với thành phố Đà Lạt, đặc trưng phát triển ứng dụng NNCNC chủ yếu là loại cây trồng rau và hoa. Với diện tích hiện nay trên 10.500 ha đất sản xuất nông nghiệp, trong đó trên 4.600 ha canh tác rau, hoa các loại, diện tích ứng dụng NNCNC khoảng 3.200 ha, thành phố Đà Lạt phát triển chương trình NNCNC theo hướng tăng vụ, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Từ năm 2004 đến nay hầu hết mỗi hộ nông dân trong vùng sản xuất nông nghiệp tại thành phố Đà Lạt đều có một phần diện tích đất nông nghiệp của hộ vào sản xuất ứng dụng NNCNC, hiện đang tiếp tục nhân rộng diện tích sản xuất theo hướng CNC. Tuy nhiên, để việc ứng dụng mô hình CNC vào sản xuất nông nghiệp thật sự có hiệu quả, tránh tình trạng tràn lan không tập trung, tự phát, thiếu định hướng, thiếu kiểm soát sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm, tính cạnh tranh thị trường và thu nhập của người nông dân không cao sẽ ảnh hưởng đến yếu tố kinh tế - xã hội của địa phương. Để chủ trương triển khai đúng hướng theo lộ trình phát triển NNCNC của Tỉnh đến năm 2020, thì cần phải có sự đánh giá, nhìn nhận được thực trạng của việc ứng dụng sản xuất NNCNC của tỉnh nói chung và người dân sản xuất nông nghiệp tại thành phố Đà Lạt nói riêng. Nhằm có thêm cơ sở khoa học để định hướng phát triển và mở rộng mô hình NNCNC tại thành phố Đà Lạt một cách hiệu quả. Từ thực tế nhu cầu cấp thiết đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân tích khả năng mở rộng mô hình nông nghiệp công nghệ cao tại thành phố Đà Lạt

2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

* Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu tại các phường 7, 8, 9, 11, 12 được xác định là các vùng sản xuất ứng dụng nông nghiệp CNC chính của thành phố Đà Lạt.
Phạm vi thời gian: Từ tháng 12/2011 đến tháng 12/2012

* Đối tượng nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu hộ nông dân sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Lạt, trong đó sản xuất theo hướng truyền thống và sản xuất theo hướng ứng dụng NNCNC.
Tập chung vào xem xét các yếu tố tác động tới khả năng ứng dụng mô hình NNCNC tại Đà Lạt, và xem xét khả năng ứng dụng này như thế nào?
Tập chung vào xem xét các mô hình NNCNC về mặt lý luận, thực tiễn và các công trình nghiên cứu trước đây.

3. Mô hình và giả thiết nghiên cứu về khả năng mở rộng mô hình NNCNC

Để xem xét khả năng mở rộng mô hình nông nghiệp công nghệ cao, trên cơ sở các lý luận và công trình nghiên cứu trước đây tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu gồm tám yếu tố cơ bản có tác động đến quyết định đầu tư mở rộng mô hình nông nghiệp công nghệ cao tại địa bàn Tp. Đà Lạt và nhóm thông tin mô tả chung về các đối tượng trả lời phỏng vấn; với các giả thiết cụ thể như sau:
 
                                Nguồn: Tổng hợp và giả thiết nghiên cứu của tác gi

                     Hình 2.2: Mô hình về khả năng mở rộng NNCNC
 
Học vấn chủ hộ (X1): Trình độ học vấn càng cao, người nông dân càng có nhu cầu tiếp cận thông tin mới, có khả năng phân tích thông tin và lựa chọn thông tin hữu ích cho quá trình sản xuất NNCNC (Nghiên cứu chia theo từng cấp học vấn). Nghiên cứu này kỳ vọng là dấu dương (+).
Kinh nghiệm chủ hộ (X2): Càng có nhiều kinh nghiệm, hộ gia đình càng biết cách lựa chọn CNC để áp dụng mô hình, kỳ vọng rằng NNCNC có khả năng ứng dụng. Do đó, nghiên cứu này kỳ vọng là dấu dương (+).
Diện tích đất sản xuất NNCNC (X3): Kỳ vọng rằng, diện tích dành cho sản xuất NNCNC càng nhiều là cho ra giá trị nông sản càng cao. Nghiên cứu kỳ vọng dấu dương (+). Biến X3 được xác định trong quá trình xử lý số liệu bằng cách lấy logarit cơ số e của diện tích dành cho sản xuất NNCNC (Ln(diện tích cho sản xuất NNCNC)).
Tham gia tập huấn về NNCNC (X4): Kỳ vọng rằng các hộ nông dân tham gia tập huấn khuyến nông về ứng dụng NNCNC thì việc áp dụng các thông tin vào quá trình sản xuất NNCNC sẽ càng cao. Vì vậy, nghiên cứu này kỳ vọng là dấu dương (+).
Giá bán sản phẩm (X5): Kỳ vọng rằng giá bán sản phẩm NNCNC cao hơn giá bán sản phẩm nông nghiệp truyền thống. Vậy kỳ vọng nghiên cứu là dấu dương (+)
Tổng thu nhập từ sản xuất NNCNC (X6): Kỳ vọng rằng người sản xuất có thu nhập từ sản xuất theo mô hình NNCNC càng cao thì việc có khả năng mở rộng mô hình càng cao. Vì vậy, nghiên cứu này sẽ kỳ vọng là dấu dương (+). Biến X6 được xác định trong quá trình xử lý số liệu bằng cách lấy logarit cơ số e của Tổng thu nhập từ sản xuất NNCNC (Ln(Tổng thu nhập từ sản xuất NNCNC)).
Tổng chi phí đầu tư sản xuất NNCNC (X7): Kỳ vọng rằng người sản xuất có tổng chi phí đầu vào cho sản xuất NNCNC càng cao thì khả năng quyết định tham gia càng kho khăn và ngược lại. Vậy kỳ vọng tổng chi phí sẽ là dấu âm (-). Biến X7 được xác định trong quá trình xử lý số liệu bằng cách lấy logarit cơ số e của Tổng chi phí từ sản xuất NNCNC (Ln(Tổng chi phí từ sản xuất NNCNC)).
Tổng lợi nhuận NNCNC (X8): Kỳ vọng rằng, người sản xuất có tổng lợi nhuận đạt được từ sản xuất theo mô hình NNCNC càng cao thì việc quyết định có khả năng áp dụng mô hình càng cao. Vì vậy, nghiên cứu này kỳ vọng là dấu dương (+). Biến X8 được xác định trong quá trình xử lý số liệu bằng cách lấy logarit cơ số e của Tổng lợi nhuận NNCNC (Ln(Tổng lợi nhuận NNCNC)).

4. Kết quả nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích các tính chất của dữ liệu và ứng dụng mô hình nghiên cứu đã đề cập tại chương 3, tác giả triển khai mô hình hồi quy Logistic cho 11 nhân tố Xi (i = 1 – 11) với biến phụ thuộc Y (quyết định ứng dụng mô hình NNCNC của hộ nông dân thành phố Đà Lạt, chỉ nhận 2 giá trị 1 và 0). Mô hình tổng quát là Y =f (Xi, I = 1 – 11); mô hình ước lượng cụ thể theo Eview 6 như dưới đây và cho kết quả ở bảng sau:
Estimation Command:
=========================
BINARY(D=L) Y X1 X2 X3 X4 X5 X6 X7 X8 C
Estimation Equation:
=========================
Y = 1-@CLOGISTIC(-(C(1)*X1 + C(2)*X2 + C(3)*X3 + C(4)*X4 + C(5)*X5 + C(6)*X6 + C(7)*X7 + C(8)*X8 + C(9)))
                                                                   Bảng 3.5: Kết quả hồi quy Logistic
Dependent Variable: Y      
Method: ML - Binary Logit (Quadratic hill climbing)  
Sample: 1 120        
Included observations: 120      
Convergence achieved after 9 iterations    
Covariance matrix computed using second derivatives  
           
           
Variable Coefficient Std. Error z-Statistic Prob.    
           
           
X1 -0.047426 0.190307 -0.249209 0.8032  
X2 1.459760 0.901053 1.620060 0.1052  
X3 0.541102 0.495397 1.092260 0.2747  
X4 3.425537 0.920735 3.720437 0.0002  
X5 2.690657 1.485022 1.811864 0.0700  
X6 17.54301 9.308174 1.884689 0.0595  
X7 -1.267197 0.483342 -2.621741 0.0087  
X8 -14.84873 9.372613 -1.584268 0.1131  
C -56.28216 22.24479 -2.530127 0.0114  
           
           
McFadden R-squared 0.751934 Mean dependent var 0.758333  
S.D. dependent var 0.429888 S.E. of regression 0.216096  
Akaike info criterion 0.424358 Sum squared resid 5.183415  
Schwarz criterion 0.633420 Log likelihood -16.46149  
Hannan-Quinn criter. 0.509259 Restr. log likelihood -66.35921  
LR statistic 99.79546 Avg. log likelihood -0.137179  
Prob(LR statistic) 0.000000      
         
         
Obs with Dep=0 29      Total obs 120  
Obs with Dep=1 91      
         
         
                     
Nguồn: Eview 6
Từ bảng trên trên chúng ta có thể viết thành phương trình hồi quy dạng: Y = 1-@CLOGISTIC(-(-0.0474262976471*X1 + 1.4597595861*X2 + 0.54110207293*X3 + 3.42553739835*X4 + 2.69065740076*X5 + 17.5430088545*X6 - 1.26719708187*X7 - 14.8487333568*X8 - 56.2821602572)) kết quả ước lượng cho thấy:
Mô hình có McFadden R-squared0.751934, giải thích được 75.19% khả năng (xác suất) quyết định ứng dụng hay không ứng dụng mô hình NNCNC của hộ nông dân thành phố Đà Lạt. Quan sát mẫu 120 cho thấy có 91 trường hợp đồng ý tiếp tục mở rộng mô hình (đạt tỷ lệ75.83%) và 29 trường hợp còn lại không đồng ý mở rộng mô hình NNCNC (đạt tỷ lệ 24.17%)
Prob (LR statistic) = 0 < 5% cho thấy giả thiết Ho: Mô hình không phù hợp bị bác bỏ có nghĩa là mô hình có thể sử dụng trong việc giải thích các diễn biến.
Xem xét giả thiết Ho: Các nhân tố không có tác động tới khả năng xảy ra quyết định ứng dụng mô hình NNCNC; ứng với giá trị Pvalue< 10% kết quả cho thấy các biến X2, X4, X5, X6, X7 là có tác động tới quyết định ứng dụng mô hình NNCNC (Bác bỏ Ho) và các biến X1, X3, X8 là không có tác động (do Pvalue tương ứng > 10%, chấp nhận Ho). Dưới đây là bảng diễn giải các biến tác động:
(i) Hệ số chặn C cho biết luôn tồn tại một hằng số (một số yếu tố ngẫu nhiên) có tác động tiêu cực, ngược chiều tới quyết định ứng dụng mô hình NNCNC của hộ nông dân mà không phụ thuộc vào diễn biễn của các yếu tố Xi (i=1 – 8) đang nghiên cứu. Có thể đây là các thói quen cũ, sức ỳ, vấn đề tâm lý, hay tập quán sản xuất truyền thống …đã tạo ra một lực cản nhất định và cố định tới việc quyết định ứng dụng NNCNC.
(ii) Kinh nghiệm chủ hộ có tác động tích cực tới khả năng ra quyết định ứng dụng mô hình NNCNC; tuy nhiên mức độ tác động tới khả năng xảy ra quyết định là nhỏ; X2 tăng 1 đơn vị sẽ khiến cho khả năng quyết định/khả năng không quyết định tăng là e1.459760
(iii) Việc tham gia các lớp tuyền truyền, tập huấn về NNCNC có tác động tích cực tới khả năng ra quyết định ứng dụng mô hình NNCNC và mức độ tác động ở mức vừa phải X4 tăng 1 đơn vịvị sẽ khiến cho khả năng quyết định/khả năng không quyết định tăng là e3.425537
Giá bán sản phẩm NNCNC có tác động tích cực tới khả năng ra quyết định ứng dụng mô hình NNCNC và mức độ tác động ở mức vừa phải; X5 tăng 1 đơn vịvị sẽ khiến cho khả năng quyết định/khả năng không quyết định tăng là e 2.690657
Thu nhập từ việc sản xuất sản phẩm nông nghiệp ứng dụng mô hình NNCNC có tác động tích cực tới khả năng ra quyết định ứng dụng mô hình NNCNC và mức độ tác động ở mức cao; X6 tăng 1 đơn vị sẽ khiến cho khả năng quyết định/khả năng không quyết định tăng là e 17.54301
Chi phí đầu tư cho việc sản xuất sản phẩm nông nghiệp ứng dụng mô hình NNCNC có tác động tiêu cực tới khả năng ra quyết định ứng dụng mô hình NNCNC và mức độ tác động ở mức nhỏ; X7 tăng 1 đơn vịvị sẽ khiến cho khả năng quyết định/khả năng không quyết định giảm là e -1.267197
 
Xem thêm lý thuyết về: Hướng dẫn hồi quy FEM/REM với StataMô hình hồi quy tuyến tính, FEM và REM,  phân tích Tương quan và Đa cộng tuyến; phương sai sai số thay đổi ; tự tương quan, Hausman test; kiểm định phi tham số, VAR, MDS; EFA, VECM, CFA, SEM, PMG. Xem thêm một số bài nghiên cứu ứng dụng lý thuyết   Tra cứu giá trị thống kê qua bảng tính sẵn giá trị hồi quy,  kiểm định, eview, stataspss
 

Để có thêm thông tin chi tiết liên hệ: Luanhay.vn  - 081 800 1762/  097 9696 222 – hoặc email: luanhay@luanhay.com – luanvanhay@gmail.com
 
 

Đăng ký tuyển sinh

Hide Buttons