Đầu tư FDI của Đài Loan vào Việt Nam

Admin| 03/08/2017
Đầu tư FDI của Đài Loan vào Việt Nam

Tên tác giả: luanhay.vn

Từ khóa: hồi quykiểm định, eview, stataspss, luận văn, luận hay, bảng hỏi, mô hình, CFA, SEM, FDI

Tóm tắt: Kể từ khi có dự án đầu tư đầu tiên tại Việt Nam, Đài Loan đã liên tục tăng số dự án và lượng vốn đầu tư vào Việt Nam. Hiện nay các nhà đầu tư Đài Loan đã có mặt trên 57/64 tỉnh, thành phố của Việt Nam với số dự án đứng đầu và đứng thứ hai về lượng vốn đầu tư (sau Singapore) trong các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Việt Nam đã rất thành công trong việc thu hút nguồn vốn FDI nói chung và FDI từ Đài Loan nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được còn có những tồn tại, hạn chế nhất định trong việc thu hút vốn FDI, đó là: môi trường đầu tư kém hấp dẫn, chính sách đầu tư của Việt Nam chưa minh bạch và rõ ràng, hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài còn nhiều bất cập chưa thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế, cơ sở vật chất còn chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư,...Vì vậy, trong thời gian Việt Nam cần sớm có những điều chỉnh để lấy lại niềm tin và hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà Đầu tư Đài Loan bởi quy mô của các doanh nghiệp Đài Loan có khá nhiều nét tương đồng với các doanh nghiệp Việt Nam. Để hấp dẫn được các nhà đầu tư Đài Loan thì chính phủ cũng như chính quyền các địa phương cần sớm có những biện pháp cụ thể, rõ ràng giải quyết triệt để những tồn tại trong quan hệ hợp tác đầu tư với các nhà đầu tư Đài Loan.
 
1. Xu hướng đầu tư của Đài Loan vào Việt Nam hiện nay
Trước kia, Đài Loan coi Nhật Bản là thị trường chiến lược của mình, nhiều nhà đầu tư Đài Loan có mặt ở Nhật Bản trong hầu hết các lĩnh vực. Nhưng từ năm 2000 trở lại đây, các nhà đầu tư Đài Loan lo ngại việc tập trung đầu tư quá lớn ở một thị trường, đặc biệt là thị trường Nhật Bản có sức cạnh tranh cao, đang cạn dần về tài nguyên và có thể có nhiều rủi ro xảy ra. Họ nghĩ đến đầu tư ở một nước khác có nhiều lợi thế hơn và để hạn chế được rủi ro trong đầu tư. Do có những điểm tương đồng về văn hoá và kinh tế của hai nước, cộng với việc Việt Nam là một đất nước có nền chính trị ổn định và kinh tế đang trên đà tăng trưởng với tốc độ cao, nên Việt Nam được nhiều nhà đầu tư của Đài Loan lựa chọn là thị trường chiến lược của mình.
Từ trước đến nay, FDI Đài Loan chủ yếu tập trung ở lĩnh vực công nghiệp nhẹ, tận dụng lợi thế Việt Nam có đội ngũ lao động đông và rẻ, đồng thời các doanh nghiệp Đài Loan cũng muốn thăm dò thị trường. Nhưng một vài năm gần đây (từ năm 2000), FDI Đài Loan đang có một sự chuyển dịch đáng kể: gia tăng đầu tư trong các lĩnh vực bất động sản, công nghiệp nặng và các ngành có công nghệ cao. Đây là một tín hiệu đáng mừng cho quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam.
2. Những ưu điểm đầu tư Đài Loan vào Việt Nam
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp Đài Loan đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho Việt Nam, góp phần đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, đI vào ổn định và phát triển .Vốn đầu tư của Đài Loan vào Việt Nam phù hợp với đường lối của mở cửa và tranh thủ ngoại lực của Đảng và Nhà nước ta.
Thứ hai, nó cung cấp cho thị trường một khối lượng lớn hàng hoá, nhất là những hàng hoá thay thế nhập khuẩu như sắt thép, điện tử, điện dân dụng, hàng hoá tiêu dùng…góp phần bình ổn cung cầu và giá cả thị trường. Các doanh nghiệp Đài Loan liên doanh với ta góp phần nâng cao giá trị hàng hoá xuất khuẩu của Việt Nam ra nước ngoài, đặc biệt là các thị trường khó tính như Tây Âu, Bắc Mỹ. FDI của Đài Loan đã đem lại cho Việt Nam một khoản ngoại tệ từ xuất khẩu không phảI nhỏ.
Thứ ba, FDI của Đài Loan đã góp phần thức đẩy CNH – HĐH của Việt Nam bằng việc tập chung chủ yếu vào các khu vực công nghiệp, đặc biệt là công nghệ chế tạo sản phẩm điện tử, điện, ô tô, xe máy…là những ngành còn yếu kếm ở nước ta, góp phần nâng cao tỷ trọng của các khu vực này vào nền kinh tế. Nhiều công nghệ mới được nhập vào nước ta như công nghệ chế tạo máy, sản phẩm cơ khí điều khiển theo chương trình, dây chuyền tự động lắp ráp hàng điện tử , mạch điện tử...bổ sung cho chúng ta những lĩnh vực còn thiếu.
Thứ tư, FDI của Đài Loan góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà Nước. Nhìn lại thực tế thu hút đầu tư của Đài Loan trong nhiều năm qua cho thấy cùng với việc gia tăng số dự án và vốn đầu tư, hoạt động đầu tư của Đài Loan đã đóng góp một phần không nhỏ cho nguồn thu ngân sách, góp phần gia tăng hàng năm khoảng 0.7% tổng thu ngân sách (mức đóng góp chung vào thu ngân sách hàng năm của FDI khoảng 7%). Bởi theo quy định hiện hành của Nhà nước Việt Nam, nguồn thu từ các dự án có vốn đầu tư nước ngoài khá đa dạng: từ thuế XNK, thuế lợi tức đến tiền thuê mặt đất, nước, mặt biển, lệ phí dự án và phần lợi nhuận phát sinh khi chuyển nhượng vốn. Do vậy càng nhiều dự án đầu tư đi vào hoạt động thì thu cho ngân sách càng lớn.
Thứ năm, các danh nghiệp có vốn đầu tư Đài Loan đóng góp vai trò quan trọng vào việc giải quyết việc làm cho người lao động. Cùng với chuyển giao vốn, công nghệ, thị trường, kinh nghiệm quản lý, đến nay FDI của Đài Loan đã tạo việc làm cho 5.1 vạn lao động trực tiếp, đấy là chưa kể tới hàng vạn lao động gián tiếp khác.
3. Những tồn tại của đầu tư FDI Đài Loan ở Việt Nam         
Bên cạnh những thành tựu đạt được, FDI của Đài Loan ở Việt Nam vẫn còn một số hạn chế sau:
Thứ nhất, phải kể đến lượng vốn đầu tư, đúng là chúng ta đã đạt được những thành tựu trong việc thu hút FDI từ Đài Loan song lượng vốn đầu tư vào nước ta chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của một nhà đầu tư lớn của Đài Loan. So với FDI của Đài Loan vào các nước khác trên thế giới và thấp so với nhu cầu vốn cho phát triển của Việt Nam. Đặc biệt trong những năm gần đây FDI của Đài Loan có nhiều hướng đi xuống. Nếu tình trạng này vẫn còn tiếp tục xảy ra thì đây sẽ là một thiệt thòi không nhỏ cho Việt Nam.
Thứ hai, là cơ cấu đầu tư  theo lãnh thổ, khu vực Miền Nam vẫn còn chiếm quá lớn lực lượng vốn đầu tư của Đài Loan, còn Miền Bắc nhiều tiềm lực vẫn còn đạt mức trung bình, Miền Trung và Tây Nguyên thì quá thấp. Cơ cấu đầu tư theo ngành còn nhiều bất hợp lý như tập trung quá nhiều vào các ngành công nghiệp, trong khi nông và lâm nghiệp còn quá nhỏ so với nhu cầu đầu tư và tiềm năng phát triển. Thị trường về dịch vụ còn chưa thực sự mở đối với đầu tư trực tiếp từ Đài Loan.
Thứ ba, ở một số ít doanh nghiệp liên doanh với Đài Loan đã có hiện tượng tạo lỗ giả để ép doanh nghiệp Việt Nam ra khỏi liên doanh. Đây cũng là xu hướng phổ biến trong các doanh nghiệp liên doanh giữa Việt Nam với các đối tác nước ngoài gây thiệt thòi lớn cho bên Việt Nam.
Thứ tư, dung lượng thị trường nước ta còn thấp do mức thu nhập của xã hội không cao, cầu tiêu dùng liên tục giảm trong những năm qua. Sở dĩ Đài Loan vài năm trở lại đây đầu tư vào Việt Nam với quy mô không lớn là do thị trường Việt Nam có dấu hiệu bão hoà một số mặt hàng như xi măng, xe máy, khách sạn văn phòng...Động lực thúc đẩy của các nhà đầu tư nước ngoài là lợi nhuận trên cơ sở nhằm khai thác thị trường nội địa, một khi thị trường nội địa bị hạn chế sẽ tác động tiêu cực tới việc thu hút FDI.
Thứ năm, lao động của Việt Nam mặc dù có nhiều ưu điểm như giá thuế, nhân công rẻ, cần cù chịu khó. Song với yêu cầu về trình độ cũng như cường độ và kỷ luật lao động khắt khe của một nước công nghiệp phát triển như Đài Loan thì chúng ta còn đang rất yếu. Lao động nước ta trình độ kỹ thuật còn nhiều hạn chế, số lượng lao động có kỹ năng đã qua đầo tạo chưa nhiều, tác phong công nghiệp, tính trách nhiệm trong công việc chưa cao. Đây cũng là những yếu tố hạn chế khi thu hút đầu tư nước ngoài đặc biệt là của Đài Loan, quốc gia luôn coi trọng yếu tố con người hành đầu. Chính vì thế, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn còn phàn nàn về lao động Việt Nam. Nguyên nhân của tình trạng trên là do chính sách giáo dục, đào tạo chưa hợp lý, chưa cân đối giữa các ngành nghề, lĩnh vực. Phương pháp đầo tạo còn thiên về lý thuyết chưa quan tâm đến vấn đề chất lượng. Đây cũng là những bất lợi lớn làm giảm cơ hội việc làm của Việt Nam trong các dự án của Đài Loan.
 
Xem thêm lý thuyết về: Hướng dẫn hồi quy FEM/REM với Stata, Mô hình hồi quy tuyến tính, FEM và REM,  phân tích Tương quan và Đa cộng tuyến; phương sai sai số thay đổi ; tự tương quan, Hausman test; kiểm định phi tham số, VAR, MDS; EFA, VECM, CFA, SEM, PMG. Xem thêm một số bài nghiên cứu ứng dụng lý thuyết   Tra cứu giá trị thống kê qua bảng tính sẵn giá trịhồi quykiểm định, eview, stataspss
 
Để có thêm thông tin chi tiết liên hệ:Mr.Quân – nghiên cứu định lượng - 0127 800 1762 – hoặc email: luanvanhay@gmail.com – Add: Tầng 8, tòa nhà sáng tạo, số 1 Lương Yên, Hai Bà Trưng, Hà Nội
 

Đăng ký tuyển sinh

Hide Buttons