Các yếu tố quyết định đến chính sách cổ tức tiền mặt của các công ty trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Đề tài: Các yếu tố quyết định đến chính sách cổ tức tiền mặt của các công ty trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
 
Tên tác giả: Luanhay.vn

 

Từ khóa: các nhân tố tác động lên chính sách cổ tức tiền mặt, mức độ ảnh hưởng của các doanh nghiệp niêm yết tại HOSE trên TTCK Việt Nam, chính sách cổ tức của các công ty niêm yết trên TTCK VN

 
1. Trình bày vấn đề
 
TTCK Việt Nam đã trải qua một thời kỳ nhiều biến động trong giai đoạn từ 2008 cho tới nay. Tính tới hiện tại, giá trị giao dịch bình quân trên HOSE đạt 881,5 tỷ đồng/phiên; các cổ phiếu trên HOSE đang được định giá ở mức 11,3 lần lợi nhuận và 1,5 lần giá trị sổ sách (P/B). Huy động vốn qua TTCK năm nay tăng mạnh với trái phiếu doanh nghiệp trong khi đó qua phát hành cổ phiếu và IPO đạt giá trị rất thấp. Tổng số vốn huy động được qua TTCK năm 2012 là 41 nghìn tỷ đồng, giảm 30% so với năm 2011.
Bảng số liệu tổng hợp của Stox.vn (2013) và khảo sát sơ bộ của đề tài cho thấy: (1) giai đoạn trước 2008 các công ty niêm yết và nhà đầu tư ít quan tâm đến chính sách cổ tức mà chỉ quan tâm đến diễn biến giá cổ phiếu và thích việc chia cổ tức bằng cổ phiếu hơn bằng tiền mặt; (2) Giai đoạn từ 2009 cho đến nay vấn đề cổ tức bắt đầu được các công ty niêm yết công bố và thực hiện đều đặn với tần suất và tỷ lệ tăng dần; các nhà đầu tư cũng quan tâm tới cổ tức nhiều hơn và thích cổ tức bằng tiền mặt nhiều hơn.

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

(1) Đối tượng nghiên cứu: Chính sách cổ tức tiền mặt của các công ty trên thị trường chứng khoán Việt Nam, dưới sự tác động của các nhân tố: Quy mô công ty, Khả năng sinh lời, Rủi ro, Đòn bẩy, Tính thanh khoản.
(2) Phạm vi nghiên cứu: Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu tài chính của 100 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2012.

3. Phương pháp nghiên cứu

-Thu thập dữ liệu

          Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp được lấy từ các báo cáo tài chính giai đoạn 2008 - 2012 của 100 doanh nghiệp niêm yết tại HOSE và HNX; luận văn chủ yếu chọn các doanh nghiệp niêm yết tại HOSE làm đại diện cho các công ty trên TTCK Việt Nam là vì quy mô, mức độ ảnh hưởng và tính minh bạch của các công ty niêm yết tại HOSE là lớn.
          Các chỉ tiêu về Quy mô công ty, Khả năng sinh lời, Rủi ro, Đòn bẩy tài chính, Tính thanh khoản được thu thập và tính toán từ các báo cáo tài chính tương ứng với mỗi năm và mỗi công ty
          Các doanh nghiệp được thu thập dữ liệu tại HOSE và HNX  theo nguyên tắc ngẫu nhiên đảm bảo điều kiện là có đầy đủ thông tin và khả năng tiếp cận được thông tin trong giai đoạn nghiên cứu
          Địa chỉ lấy thông tin là cafef.vn; stox.vn, webiste của UBCKNN, Trung tâm lưu ký, hnx.vn, website các công ty chứng khoán như SSI, MBS, FPTs, cophieu68.com và website của chính các công ty cần lấy thông tin.

- Phân tích xử lý dữ liệu

  1. Dữ liệu thu thập về được nhập liệu vào file exel các thông số cơ bản và từ đó dẫn suất tính toán ra các chỉ tiêu cần nghiên cứu
  2. Sau đó, các chỉ tiêu nghiên cứu được chuyển sang phần mềm Eview 6.0, để phân tích, tính toán
  3. Các kỹ thuật thống kê mô tả được sử dụng
  4. Hồi quy đa biến bằng phương pháp hồi quy bảng
  5. Thực hiện các kiểm định các hệ số beta, kiểm định Wald, kiểm định tương quan …
4. Kết quả nghiên cứu
                              Bảng 4.11: Kết quả kiểm định các giả thiết thống kê của mô hình FEM
Giả thiết Diễn giải P_value Kết quả
EPS Thu nhập trên cổ phần có tác động tích cực đến chính sách cổ tức 0.5814 Không có ý nghĩa
ROE Lợi nhuận trên vốn cổ phần có tác động tích cực đến chính sách cổ tức 0.0175 Có ý nghĩa, tiêu cực
LA Quy mô doanh nghiệp có tác động tích cực đến chính sách cổ tức 0.7438 Không có ý nghĩa
LV Đòn bẩy tài chính có tác động tiêu cực đến chính sách cổ tức 0.7960 Không có ý nghĩa
LQ Tỷ lệ tài sản ngắn hạn/ Nợ ngắn hạn có tác động tích cực đến đến chính sách cổ tức 0.8791 Không có ý nghĩa
PE Rủi ro của doanh nghiệp có tác động tiêu cực đến chính sách cổ tức 0.0180 Có ý nghĩa, tích cực
LTA Tỷ lệ tài sản dài hạn/ Tổng tài sản (phản ánh đầu tư của doanh nghiệp) có tác động tiêu cực đến chính sách cổ tức 0.4564 Không có ý nghĩa
CAS Khả năng thanh toán tiền mặt có tác động tích cực đến chính sách cổ tức. 0.8760 Không có ý nghĩa
                                                                                                                                  Nguồn: Tính toán từ Eview 6

Như vậy kết quả nghiên cứu đã cho thấy ý nghĩa của mô hình các tác động cố định (FEM) là đã  xem xét “các đặc điểm” (các yếu tố tài chính, yếu tố quản lý …)  của từng doanh nghiệp niêm yết với giả định rằng các hệ số độ dốc theo thời gian là không đổi đối với mỗi doanh nghiệp. Thuật ngữ ‘các ảnh hưởng cố định’ trong nghiên cứu này còn cho biết cho dù “các đặc điểm” của doanh nghiệp là có thể khác nhưng tung độ gốc của mỗi doanh nghiệp không thay đổi theo thời gian.  Và từ đó kết quả đã có những giải lý giải các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức tiền mặt của doanh nghiệp niêm yết như sau:
a) Nhóm biến có ý nghĩa
-  Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu có tác động tiêu cực đến chính sách cổ tức (ROE: -30.13%  ở mức α = 5%) kết quả này phù hợp với giả thuyết nghiên cứu của đề tài đặt ra là bỏ ngỏ dấu tác động (Có thể “+”  hoặc “-“); và kết quả này trái ngược với các nghiên cứu của Faris (2012), Ho (2003); Aivazian và ctg (2003), David Denis and Igor Osobov (2007), Yordying (2008) về tác động tích cực của ROE tới chính sách cổ tức. Tuy nhiên lại phù hợp với kết quả nghiên cứu của Kania và Bacon (2005), Okpara, Godwin Chigozie (2010).
Trên thực tế vấn đề này cho thấy khi doanh nghiệp có kết quả kinh doanh khả quan, và đang có các triển vọng lớn trong kinh doanh thì xu hướng giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư cao hơn là phân chia cổ tức cho các cổ đông; hơn nữa khi các doanh nghiệp có kết quả kinh doanh thuận lợi (ROE) cao thì diễn biến tăng giá của cổ phiếu sẽ diễn ra và các cổ đông kỳ vọng vào “lãi vốn” nhiều hơn là từ cổ tức.
- Rủi ro của doanh nghiệp có tác động tích cực đến chính sách cổ tức tiền mặt (PE: + 0.35%,  ở mức α = 5% ) có nghĩa là rủi ro càng cao thì tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền càng cao. Kết quả này phù hợp với giả thuyết nghiên cứu của đề tài đặt ra là bỏ ngỏ dấu tác động (Có thể “+”  hoặc “-“) nhưng trái ngược với kết quả nghiên cứu của Nathasa Mazna Ramli (2010), Kania và Bacon (2005) về tác động ngược chiều của chỉ tiêu giá trên thu nhập vốn cổ phần (PE); và phù hợp với kết quả của Badar Khalid Al Shabibi, G Ramesh (2011),  Anupam Mehta (2012) về tác động thuận chiều của PE đến chính sách cổ tức tiền mặt
Trên thực tế điều này là phù hợp với các doanh nghiệp niêm yết vì khi các doanh nghiệp càng chi trả tỷ lệ cổ tức cao, sẽ làm nhà đầu tư quan tâm đến cổ phiếu của doanh nghiệp và khiến giá tăng làm cho rủi ro (PE) của doanh nghiệp tăng lên; mặt khác khi cổ phiếu có xu hướng tăng giá thì lại thu hút dòng tiền đầu tư, đầu cơ của nhà đầu tư vào cổ phiếu đó … Diễn biến này làm cho rủi ro của doanh nghiệp lại có mối quan hệ tích cực với chính sách cổ tức
b) Nhóm biến không có ý nghĩa
- Kết quả nghiên cứu chỉ ra thu nhập trên vốn cổ phần (EPS) không có tác động đến chính sách cổ tức tiền mặt của doanh nghiệp nghiên cứu, điều này không phù hợp với các nghiên cứu Faris (2012), Ho (2003); Aivazian và ctg (2003), Kania và Bacon (2005), Okpara, Godwin Chigozie (2010), David và Igor(2007), Yordying (2008), Anupam (2012) về tác động của EPS đến chính sách cổ tức tiền mặt. Nguyên nhân của vấn đề này là do trong giai đoạn nghiên cứu các doanh nghiệp thường sử dụng chính sách cổ tức để nhằm hỗ trợ cho mục đích, kế hoạch nào đó tại thời điểm công bố hiện tại (chẳng hạn như huy động vốn, hoặc kích giá cổ phiếu trên sàn giao dịch ..) và trong giai đoạn nghiên cứu mối quan tâm của các cổ đông về chính  sách cổ tức đã chuyển từ cổ phiếu (trước năm 2010) sang tiền mặt (sau 2010), vấn đề này đã làm EPS của cac doanh nghiệp bị “pha loãng” liên tục trong suốt thời kỳ nghiên cứu ..và đây chính là nguyên nhân làm cho EPS không có ý nghĩa tác động.
- Quy mô doanh nghiệp không có ý nghĩa trong việc tác động đến chính sách cổ tức tiền mặt, điều này trái ngược với kết quả nghiên cứu của Faris (2012), Sasan và ctg (2011), David và Igor (2007), Anupam (2012), Yordying (2008), Gugler và Yurtuglu (2003), Mondher (2009) về mối quan hệ của quy mô doanh nghiệp với chính sách cổ tức. Trên thực tế quan sát 100 doanh nghiệp niêm yết trong giai đoạn 2008 – 2012 thì đề tài cũng nhận thấy vấn đề cổ tức của các doanh nghiệp không phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp đó, mà nó phụ thuộc vào mong muốn của cổ đông, các diễn biến tác động của môi trường vi mô, vĩ mô, xu hướng trả cổ tức của các doanh nghiệp khác. Ví dụ quy mô của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre là nhỏ hơn Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bình Chánh nhưng lại có tỷ lệ trả cổ tức cao hơn; Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen có quy mô tương tự Công ty Cổ phần CP Đầu tư Xây dựng Bình Chánh nhưng cổ tức lại trả cao hơn Công ty Cổ phần CP Đầu tư Xây dựng Bình Chánh .
 - Đòn bẩy tài chính không có ý nghĩa trong nghiên cứu này, kết quả này cũng trái ngược với các nghiên cứu của Al-Malkawi (2007), Yordying (2008), Kania và Bacon (2005), Faris (2011), Anupam (2012) về tác động của đòn bẩy tài chính với chính sách cổ tức. Về mặt thực tiễn phần lớn các doanh nghiệp nghiên cứu đều dùng đòn bẩy tài chính, đều vay nợ …và do vậy dường như vấn đề nợ và chính sách cổ tức là 2 vấn đề không có liên quan trong các quyết định về tài chính của doanh nghiệp. Vấn đề đòn bẩy là vay nợ để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh, đầu tư; còn vấn đề cổ tức là đáp ứng cho cổ đông, là công cụ để thực hiện các mục tiêu khác của doanh nghiệp; đôi khi là cả mục tiêu  để có uy tín vay được nhiều vốn hơn.
- Tỷ lệ tài sản ngắn hạn/ Nợ ngắn hạn có tác động tích cực đến đến chính sách cổ tức cũng không có ý nghĩa nghiên cứu trong luận văn này, vấn đề này cũng trái ngược với các kết quả nghiên cứu của Faris (2012), Kanwal và Kapoor (2008), Ahmed và Javid (2009), Ho (2003), Anupam (2012) về việc khả năng thanh khoản càng cao thì càng có tác động đến quyết định chi trả cổ tức tiền mặt. Trên thực tế như lý giải ở phần EPS, ROE … chính sách cổ tức của các doanh nghiệp niêm yết phụ thuộc vào các ý đồ, mục tiêu của ban điều hành chứ không phụ thuộc vào có bao tiền mặt tại doanh nghiệp. Do vậy ngay cả khi tiền mặt dồi dào, hoặc không có tiền mặt nếu cần thiết ban quản trị vẫn sẽ tìm cách để chi trả cổ tức và ngược lại.
- Tỷ lệ tài sản dài hạn/ Tổng tài sản (phản ánh đầu tư của doanh nghiệp) không có ý nghĩa trong nghiên cứu của tác giả. Trên thực tiễn các doanh nghiệp tại Việt Nam thì vấn đề quản trị dài hạn, các kế hoạch kinh doanh dài hạn, các vấn đề đánh đổi lợi ích ngắn hạn với các cơ hội tăng trưởng, sinh lời trong dài hạn là không rõ ràng; và vì thế nó không có các tác động rõ ràng đến chính sách cổ tức.
- Khả năng thanh toán tiền mặt trong nghiên cứu này cũng không có ý nghĩa trong việc tác động đến chính sách cổ tức; nó trái ngược với các kết quả nghiên cứu của Amrjit và ctg (2010); Kashif (2011) về tác động của Khả năng thanh toán tiền mặt với chính sách cổ tức. Nguyên nhân của vấn đề này được lý giải tương tự tỷ lệ Tỷ lệ tài sản ngắn hạn/ Nợ ngắn hạn phản ánh khả năng thanh khoản của doanh nghiệp.
 
Xem thêm lý thuyết về: Hướng dẫn hồi quy FEM/REM với StataMô hình hồi quy tuyến tính, FEM và REM,  phân tích Tương quan và Đa cộng tuyến; phương sai sai số thay đổi ; tự tương quan, Hausman test; kiểm định phi tham số, VAR, MDS; EFA, VECM, CFA, SEM, PMG. Xem thêm một số bài nghiên cứu ứng dụng lý thuyết   Tra cứu giá trị thống kê qua bảng tính sẵn giá trị hồi quy,  kiểm định, eview, stataspss
 

Để có thêm thông tin chi tiết liên hệ: Luanhay.vn  - 081 800 1762/  097 9696 222 – hoặc email: luanhay@luanhay.com – luanvanhay@gmail.com
 

Đăng ký tuyển sinh

Hide Buttons